Le Then chez les Tay, les Nung et les Thai

Classé au patrimoine culturel immatériel de l’Unesco. Spectacle exceptionnel le samedi 12 octobre à Nice, : palais de l’Agriculture, 113 promenade des Anglais 06000 Nice. Deuxième spectacle le 19 octobre 2024 à 19h30 au Centre Culturel Vietnamien 19 Bis rue Albert 75013 Paris.

Chez les peuples minoritaires Tày, Nùng et Thai des montagnes du nord du Vietnam, le Then est un ensemble de rituels à la croisée du chamanisme et des cultes de possession, pour appeler la protection d’un enfant à sa naissance, la bonne récolte, prédire l’avenir… mais aussi guérir le corps et l’âme en chassant les mauvais esprits, ou simplement accompagner les moments forts de la vie familiale. Ces rituels, qui font intervenir chant, musique et danse, prières et invocations, prennent des formes différentes selon les peuples et les régions. À cette diversité répondent celle des textes poétiques anciens alors chantés, et celle des mélodies et rythmes structurant la performance.
Une tradition aux multiples facettes, c’est également ainsi que le Then se révèle à travers la polysémie du mot then, au-delà du nom du rituel ou du répertoire musical. Then, ce sont aussi les divinités mises en jeu, appelées ou chassées : esprits et fantômes (phi), esprits soldats ou esprits des ancêtres, ou encore déités mâles et femelles issues du bouddhisme et du taoïsme, tels que l’Empereur de Jade. En outre, le chamane ou medium qui mène le rituel est aussi appelé Then. Femme ou homme, sa compétence musicale accompagne son rôle d’intermédiaire entre les mondes terrestre et céleste.
Auparavant considéré par les autorités politiques comme une superstition néfaste, le Then est aujourd’hui réhabilité publiquement comme une pratique culturelle et sociale inhérente à l’identité des minorités Tày, Nùng et Thai. Il est parallèlement devenu un répertoire musical dissocié de son origine religieuse, qui inspire la création pop et jazz au Vietnam. Pourtant, certains chamanes-musiciens en poursuivent la pratique rituelle et transmettent leur savoir, tout en se produisant à l’occasion sur des scènes séculières.
En 2019 il est inscrit sur la Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité par UNESCO.
L’ensemble Tày et Nùng de chamanes, musiciens et musiciennes, danseurs et danseuses, emmenés par Triêu Thuy Tiên, sont de ceux-là, et offrent la performance de cette tradition pour la première fois en France. Accompagnés du luth aux cordes de soie tinh tâu (ou dàn tinh), dont on dit qu’il a le pouvoir d’accueillir ou de chasser les esprits malfaisants, ainsi que de clochettes et de tambours, ils nous invitent à découvrir la diversité des chants et des mélodies du Then dans l’intimité propice au Palais de l’Agriculture 113 prom.des Anglais, 06000 Nice, le 12 octobre 2024 et Centre culturel du Viet Nam, 19 rue Albert, 75013 Pairs, le 19 octobre 2024.

Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam

Then là thực hành nghi lễ của các tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Thực hành then được cấu tạo từ các thành tố ca hát, múa, nhạc cụ, văn học, mỹ thuật, trò diễn và tín ngưỡng. Thực hành then phản ánh quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng Tày, Nùng, Thái trong suốt chiều dài lịch sử.
Sang giữa thế kỷ XX, yếu tố âm nhạc trong then Tày, Nùng, Thái được các nhạc sỹ phát triển, tách rakhỏi môi trường tín ngưỡng và hình thành nên hình thức then biểu diễn trên sân khấu.
Then vừa là một loại hình văn nghệ dân gian, vừa là một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian. Thực hành Then là nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào Tày, Nùng, Thái ở ViệtNam. Trong đó, Thực hành Then chủ yếu có ở 11 tỉnh gồm Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Điện Biên, Lai Châu và Lào Cai.

Hát then đàn tính mang tính chất lễ và hội, ngoài yếu tố tâm linh là để cầu mùa, chúc phúc, then tính còn giải trí, giãi bày nỗi lòng, thể hiện tình yêu đôi lứa, ca ngợi quê hương bản làng, lao động sản xuất. Trong đời sống của người Tày, Nùng, Thái cổ xưa, hát then thường được xuất hiện trong những sự
kiện trọng đại như: Lễ cầu an, cầu mùa… Người hát then trong những dịp lễ, tết là người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, bội thu, đời sống ấm no, hạnh phúc.
Hát then đàn tính của người Tày – Nùng đã gắn bó, đi vào đời sống tinh thần của dân tộc Tày – Nùng từ lâu đời và đến nay vẫn được gìn giữ. Sau những ngày lao động sản xuất được ngồi cùng nhau, cầm cây đàn tính, cùng hát then sẽ cảm thấy quên hết mệt mỏi, ưu phiền, thấy cuộc sống tươi đẹp và có
ý nghĩa hơn. Đặc biệt, từ khi hát then đàn tính được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể, những người yêu then tính càng cảm thấy mình có trách nhiệm hơn để cùng nhau gìn giữ và phát huy Di sản quý báu của dân tộc mình mãi mãi cho muôn đời sau.
Các làn điệu then tính không chỉ là món ăn tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số mà nội dung của các bài then có rất nhiều nội dung phong phú, đa dạng như: Ca ngợi quê hương, bản làng, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa, tuyên truyền pháp luật… Qua đó, giúp bà con hiểu biết hơn, đoàn kết hơn trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây thực sự là niềm vinh dự, tự hào không chỉ riêng với dân tộc Tày – Nùng – Thái mà còn của các dân tộc anh em khác ở các tỉnh vùng Đông Bắc và cả nước. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy di sản then tính là việc làm hết sức cần thiết, qua đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá quý báu của dân tộc cũng như góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội, phát triển du lịch tại địa phương.
Nghệ nhân then: Là những người có khả năng cảm nhận được thế giới linh thiêng. Nghề nghiệp chính của họ là làm môi giới giữa con người với các vị thần linh thông qua những phương tiện đặc biệt như âm nhạc, múa, văn học, phép thuật,… Để trở thành thầy then, họ phải trải qua một thời gian chịu đựng thử thách của các vị thần linh. Sự thử thách đó có thể là gặp nhiều khó khăn, bức bối trong cuộc sống hoặc trạng thái cơ thể bị suy nhược. Sau khi đủ sự kiêm tín thì họ mới được các bậc thầy của mình, thay mặt cho các vị thần linh ban cho bằng cấp và phép thuật để đi thực hành nghề. Cuộc lễ ban bằng cấp, phép thuật này được gọi là “lẩu then khai quang” và phải có được sự chứng kiến không chỉ của thần linh mà còn là của các bậc thầy cũng như toàn bộ dân làng.
Nghệ sỹ, nghệ nhân hát hát then sân khấu: Là những người có năng khiếu âm nhạc và yêu mến nghệ thuật ca hát trong then. Họ chủ yếu tham gia hoạt động ở hình thức then sân khấu. Họ có thể là những người được đào tạo âm nhạc trong các trường học nghệ thuật chuyên nghiệp nhưng cũng có thể là họ học cách đàn, hát từ các thầy then trong dân gian. Các nghệ nhân, nghệ sỹ hát then sân khấu là lực lượng quan trọng trong việc quảng bá và giữ gìn di sản then của người Tày, Nùng, Thái.
Đàn tính (hay còn gọi là đàn then, tính tẩu): Là loại nhạc cụ được sử dụng trong thực hành nghi lễ then và biểu diễn hát then trên sân khấu. Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây, chi gẩy với phương pháp tạo ra âm thanh bằng ngón tay trỏ tay phải. Nhạc cụ này có cấu tạo gồm 02 phần gồm: Phần cần đàn được làm bằng các loại gỗ nhẹ và thớ thẳng như cây bồ đề, cây xắng,… Phần hộp đàn được làm từ quả bầu khô hoặc đúc từ kim loại như đồng, bạc. Tùy theo sở thích của từng địa phương mà cây đàn tính có 02 hoặc 03 dây. Trong quan niệm của những người làm then thì cây đàn tính và những âm thanh của nó là cầu nối dẫn con người đến với thế giới của các vị thần tiên.
Xóc nhạc: Đây là loại nhạc cụ họ tự thân vang và được đúc bằng kim loại như đồng, bạc. Bộ xóc nhạc là vật tượng trưng cho những con ngựa thần mà thầy then cưỡi lên để đi qua các cõi linh thiêng.
Bộ xóc nhạc tuy là nhạc cụ chính trong thực hành then nhưng lại chỉ được các thầy then sử dụng ở một số chương đoạn nhất định trong nghi lễ then mà có hành động cưỡi con ngựa thần.
Mũ then: Mũ then là điểm nhấn quan trọng trong bộ trang phục hành nghề của thầy then. Trên mũ then thường thêu các biểu tượng và hình ảnh linh thiêng như hình hoa sen, hình chiếc đèn thần của Phật Như Lai, hình Phật Bà Quan Âm, hình các vị thần tiên, hình các con vật linh thiêng (rồng, phượng, kỳ lân),… Phía đằng sau mũ then có những dải tua dài được thêu các hoa văn cầu kỳ và dài đến đầu gối của thầy then. Số lượng dải tua thể hiện chức sắc của thầy then, những thầy then mới vào nghề có 05 dải tua mũ và những thầy then có chức sắc cao thường có 13 hoặc 15 dải tua mũ. Việc thăng chức của thầy then thể hiện ở việc thực hiện các cuộc lễ cấp sắc.
Áo then: Áo của thầy then là loại áo dài được dệt từ các loại vải như vải bông, vải thô, vải lụa, vải tơ tằm,…với nhiều màu sắc khác nhau theo sở thích của thầy then. Ở nhiều môn phái then, màu sắc áo cũng thể hiện cả chức sắc của thầy then, những thầy then có chức sắc thấp và trung bình thường mặc
áo đỏ còn những thầy then có chức sắc cao thường mặc áo vàng.
Ngày 12/12/2019, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO diễn ra tại Bogota, Colombia, « Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam » chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của
nhân loại.

Các nghệ nhân, nghệ sỹ hát then

  1. NSND Triệu Thủy Tiên: Là nghệ sỹ trình diễn then thuộc hình thức then sân khấu. Bà Triệu Thủy Tiên sinh năm 1953 tại tỉnh Lạng Sơn và là người thuộc cộng đồng dân tộc Nùng. Năm 1993, bà Thủy Tiên được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú. Năm 2019, bà được phong danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân. Bà Thủy Tiên là nghệ sỹ hát then thuộc thế hệ đầu tiên khi hình thức then mới ra đời. Ở Việt Nam, bà là nghệ sỹ hát then rất nổi tiếng và có nhiều công lao trong việc khôi phục phong trào đàn, hát then ở các địa phương mà loại hình này đang bị mất đi. Bà Tiên cũng đã tham giam khá nhiều các Hội thảo khoa học liên quan đến then và đưa ra nhiều ý kiến được giới chuyên môn đánh giá cao. Năm 2017, bà là trưởng đoàn hát then Việt Nam trình diễn tại nhà hát Mandapa (Paris).
  2. NNUT Nguyễn Văn Thọ: Là nghệ nhân thực hành nghi lễ then. Ông Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1991 tại Lạng Sơn và là người thuộc cộng đồng dân tộc Tày. Năm 2019, ông Thọ được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong danh hiệu Nghệ nhân ưu tú. Ông là người trẻ nhất được phong tặng danh hiệu này. Ông Thọ đã nhiều lần trình diễn, giới thiệu di sản then tại Trung Quốc. Năm 2017, ông tham gia trình diễn hát then tại nhà hát Mandapa (Paris).
  3. Tô Đình Hiệu: Là nghệ nhân trình diễn then thuộc hình thức then sân khấu và là nhà nghiên cứu di sản then. Ông Tô Đình Hiệu sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Ninh và là người thuộc cộng đồng dân tộc Phén (một nhóm địa phương của người Tày). Năm 2018, ông Hiệu được cấp bằng Thạc sỹ chuyên ngành Văn hóa học. Ông đã viết nhiều cuốn sách về hát then, tham gia nhiều hội thảo khoa học với nhiều ý kiến có giá trị và sáng tác nhiều bài thơ hay về then. Hiện nay ông là Giám đốc của Trung tâm Truyền thông và Văn hóa huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
  4. Nguyễn Văn Bách: Là nghệ sĩ trình diễn then thuộc hình thức then sân khấu, nhà nghiên cứu di sản then và là giáo viên giảng dạy môn nghệ thuật đàn hát then ở Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Bách sinh năm 1989 tại tỉnh Lạng Sơn và là người thuộc cộng đồng dân tộc Nùng. Năm 2024, ông được
    cấp bằng Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý văn hóa. Hiện nay ông đang thực hiện nhiệm vụ giảng dạy âm nhạc và đàn hát then tại Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc ở Thái Nguyên, Việt Nam. Ông đã viết nhiều cuốn sách về hát then, tham gia nhiều hội thảo khoa học với nhiều ý kiến có giá trị và biên
    soạn giáo trình giảng dạy môn đàn hát then. Năm 2017, ông tham gia trình diễn hát then tại nhà hát Mandapa (Paris).
  5. Chu Văn Minh: Là nghệ nhân thực hành nghi lễ then. Ông Chu Văn Minh sinh năm 1991 và là người của cộng đồng dân tộc Nùng. Ông Minh đã tham gia nhiều chương trình biểu diễn, liên hoan, hội thi hát then và dành được nhiều giải thường cao. Hiện nay ông đang là nghệ nhân hát then sinh hoạt trong câu lạc bộ và hát dân ca thuộc tỉnh Lạng Sơn và cũng là cán bộ của Trung tâm vãn hóa, nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn. Năm 2017, ông tham gia trình diễn hát then tại nhà hát Mandapa (Paris).
  6. Trịnh Thị Nguyệt: Là nghệ nhân trình diễn then thuộc hình thức then sân khấu. Bà Trịnh Thị Nguyệt sinh năm 1964 tại tỉnh Lạng Sơn và là người thuộc cộng đồng dân tộc Tày. Bà Nguyệt đã tham gia nhiều chương trình biểu diễn, liên hoan, hội thi hát then và dành được nhiều giải thường cao. Hiện nay bà đang là nghệ nhân hát then của Trung tâm Văn hóa, Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn.
  7. Phạm Thị Thảo: Là nghệ nhân trình diễn then thuộc hình thức then sân khấu. Bà Phạm Thị Thảo sinh năm 1963 tại tỉnh Lạng Sơn và là người thuộc cộng đồng dân tộc Tày. Bà Thảo đã tham gia nhiều chương trình biểu diễn, liên hoan, hội thi hát then và dành được nhiều giải thường cao. Hiện nay bà đang là nghệ nhân hát then của Trung tâm Văn hóa Truyền thông huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và là chủ nhiệm CLB Bảo tồn dân ca huyện Tràng Định.
Retour en haut
Review Your Cart
0
Add Coupon Code
Subtotal